Hiển thị các bài đăng có nhãn ngữ văn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ngữ văn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2016

[Dàn ý Phân tích văn học] Ngữ văn 11 _ Hai đứa trẻ ( Thạch Lam)


Nguồn: Internet
Hai đứa trẻ
Thạch Lam
I)          Tác giả - Tác phẩm
a.     Tác giả
·        Thạch Lam ( 1910 – 1942)
·        Tên thật : Nguyễn Tường Vinh ( sau đổi thành Nguyễn Tường Lân)
·        Quê quán : Hà Nội
·        Thành viên của Tự lực văn đoàn
·        Quan niệm văn chương lành mạnh, tiến bộ và có biệt tài về truyện ngắn
·        Văn trong sáng, giản dị mà thâm trầm, sâu sắc
·        Tác phẩm chính : truyện ngắn Gió đầu mùa (1937), Nắng trong vườn (1938), tiểu thuyết Ngày mới (1939),…
b.    Tác phẩm
·        Là một trong những truyện ngắn đặc sắc của Thạch Lam
·        In trong tập Nắng trong vườn
·        Là sự hòa quyện của hai yếu tố hiện thực và lãng mạn
II)        Tóm tắt
“Hai đứa trẻ” là câu chuyện về hai đứa trẻ Liên và An. Liên và An đã từng có một cuộc sống đầy đủ, vui vẻ ở Hà Nội. Do gia đình sa sút, hai đứa trẻ phải về sống nơi phố huyện – một cuộc sống nghèo khổ, đơn điệu. Liên cảm thấy nơi đây buồn tẻ trong một buổi chiều tà, nhìn thấy những đứa trẻ con đi nhặt nhạnh những đồ thừa. Chung quanh chúng là cuộc sống tàn lụi của chị Tí, bác Siêu, bác xẩm… thế nhưng chừng ấy người ấy sống trong bóng tối vẫn hi vọng cái gì đó tươi sáng. Mong ước ấy vẫn được thể hiện qua thao tác chờ chuyến tàu đêm chạy qua phố huyện.
III) Đọc – hiểu văn bản
1.     Cảnh và người ở phố huyện lúc chiều tà:
a.     Khung cảnh phố huyện lúc chiều tà:
·        Cảnh thiên nhiên:
+  Âm thanh:
o   Tiếng trống thu không
o   Tiếng ếch nhái kêu ran
o   Tiếng gió nhẹ
o   Tiếng muỗi vo ve
o   Tiếng chõng kêu cót két
-> Âm thanh buồn bã, đơn điệu, rời rạc
    + Màu sắc:
o   Bầu trời phía tây đỏ rực như lửa cháy
o   Đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn
o   Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên bầu trời
-> Màu sắc gợi lên sự buồn bã, hiu hắt, lụi tàn
=> Thiên nhiên vắng vẻ tạo nên khung cảnh một miền quê tĩnh mịch, đìu hiu
·        Sinh hoạt con người:
+ “Các nhà đã lên đèn cả rồi, đèn treo  trong nhà bác phở Mĩ, đèn hoa kì leo lét trong nhà ông Cửu, và đèn dây sáng xanh trong hiệu khách… Những nguồn ánh sáng ấy đều chiếu ra ngoài phố khiến cát lấp lánh từng chỗ và đường mấp mô thêm vì những hòn đá nhỏ một bên sáng một bên tối”
+ “Chợ họp trên phố đã vãn”, “Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất”
+ “Trên đất chỉ còn lại rác rưởi”
+ “Vài người bán hàng về muộn đang thu xếp hàng hóa, đúng nói chuyện vài câu”
+ “Mấy đứa trẻ con nhà nghèo lom khom, tìm tòi, nhặt nhạnh những thứ còn sót lại”
-> Cuộc sống tiêu điều, xơ xác của phố huyện nghèo
    =>Tác giả đã cảm nhận và quan sát một cách tinh tế, nhạy cảm bằng thính giác, khướu giác, thị giác và cảm giác của một con người có tấm lòng nhân hậu. Bức tranh phố huyện lúc chiều tàn hiện lên yên ả, nhẹ nhàng, nên thơ và gợi cảm giác buồn man mác trong tâm hồn nhà thơ.
b.     Tâm trạng của nhân vật Liên:
-         Cảm nhận “một chiều êm ả như ru
-         Buồn man mác trước thời khắc ngày tàn
-         Buồn thấm thía vào tâm hồn ngày thơ của chị
→ Tâm hồn nhạy cảm
-         Cảm nhận được “mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn với mùi cát bụi quen thuộc, tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này” → sự gắn bó với quê hương
-         Động lòng thương” lũ trẻ nghèo “nhưng chính chị cũng không có tiền mà cho chúng nó”  → Giàu lòng nhân ái
->    Tâm trạng buồn khắc khoải, mơ hồ, tâm hồn nhạy cảm trước cảnh vật làng quê và cảm nhạn tinh tế sự chuyển động của thời gian.
2.     Cảnh vật và con người phố huyện lúc về đêm:
a.     Cảnh vật nơi phố huyện:
·        Bóng tối:
-         Trời nhá nhem tối” , “Tối hết, đường thăm thẳm”, “Các ngõ con chứa đầy bóng tối”, “Các ngõ vào làng đen sẫm
->  Nói ít tả nhiều → bóng tối mênh mông, dày đặc bao trùm lên phố huyện nghèo → Cuộc sống tăm tối của con người nơi đây.
·        Ánh sáng:
-         Hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh
-         Vệt sáng của những con đom đóm
-         Vài cửa hàng còn thức hé ra khe sáng
-         Quầng sáng thân mật trên chõng hàng chị Tí
-         Chấm lửa hàng phở của bác Siêu
-         Từng hột sáng trong cửa hàng của Liên
-> Nói nhiều tả ít → Ánh sáng thưa thớt, nhỏ nhoi, leo lét → niềm vui ít ỏi, mong manh của những số phận nhỏ bé
·        Nghệ thuật đối lập: Ánh sáng >< Bóng tối
-> Làm cho màn đêm càng thêm mênh mông, dày đặc, bao phủ và che lấp những ánh sáng yếu ớt, mờ nhạt.
-> Cuộc sống nghèo nàn, tối tăm, mong manh của con người nơi phố huyện nghèo
b.     Sinh hoạt của con người:
·        Mẹ con chị Tí:
+ “Ngày mò cua, bắt tép”
+ “Đêm bày hàng nước, lời lãi chẳng đáng là bao
ð Cuộc sống tạm bợ, ế ẩm
·        Cụ Thi: tiếng cười “khanh khách” điên dại vào hàng Liên mua rượu
ð Số phận không may mắn
·        Bác Siêu với gánh phở “xa xỉ
ð Lời ít, vốn nhiều
·        Bác xẩm đàn hát bằng tiếng đàn bầu
ð Sống bằng tình yêu của mọi người
·        Chị em Liên với gian hàn tạp hóa nhỏ xíu, bán được vài thứ lặt vặt
ð Gánh nặng mưu sinh như người lớn
          => Người dân phố huyện sống lặng lẽ, ít hoạt động, ít nói năng → những kiếp người tàn tạ, sống cầm chừng, lặng lẽ và quanh quẩn tronh thế giới nhỏ bé, nhọc nhằn
·        Niềm hi vọng “ Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ
ð Niềm hi vọng về một cuộc sống tốt đẹp dù rất mong manh, mơ hồ
          => Tác giả cảm thông sâu sắc với cuộc sống nghèo khổ của những người dân nơi phố huyện và hết sức trân trọng ước mơ nhỏ bé của họ.
c.      Tâm trạng của Liên:
-         Ngồi yên “nhìn ngàn ngôi sao lấp lánh, đóm đóm bay là là mặt đất
-         Hồi tưởng về quá khứ, về “Hà Nội sáng rực và lấp lánh
-         Tâm hồn yên tĩnh và những “cảm giác mơ hồ không hiểu
-> Buồn chán trước thực tại, nuối tiếc về quá khứ, khát khao, mong đợi, hi vọng về một tương lai tươi sáng.
3.     Cảnh phố huyện khi đoàn tàu đi qua ( lúc về khuya)
a.    Hình ảnh chuyến tàu đêm:
-         Miêu tả theo trình tự từ xa đến gần
+ Xa : “đèn ghi”, “ngọn lửa xanh biếc”, “tiếng còi xe lửa ở đâu vang lại
+ Gần: “tiếng xe rít mạnh vào ghi”, “tiếng hành khách ồn ào khe khẽ”, “các toa đèn sáng trưng”, “những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng
+ Mất hút trong bóng tối: “nhìn theo cái chấm nhỏ của chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi lặng khuất sau bụi tre
->  Đoàn tàu đến mang niềm vui, sức sống đến cho người dân phố huyện, đối lập với cuộc sống nghèo nàn của người dân phố huyện
->  Đoàn tàu >< phố huyện ( sáng rực, sang trọng, náo nhiệt >< tăm tối, nghèo nàn, tĩnh lặng )
-         Hình ảnh chuyến tàu đêm:
+ Thế giới tươi sáng so với sự nhàm chán của phố huyện
+ Ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp hơn của người dân
+ Lay tỉnh những người sống quẩn quanh, hướng họ tới một tương lai tốt đẹp hơn, vượt lên sự nghèo nàn, tăm tối của phố huyện nghèo
b.      Tâm trạng của Liên:
-         Chị em Liên thức vì “muốn nhìn được chuyến tàu” → háo hức chờ đợi
-         Mơ tưởng về Hà Nội “Hà Nội xa xăm. Hà Nội sáng rực và huyên náo.” → tiếc nuối và khát khao
-> Khát khao được thay đổi cuộc đời, được sống trong cuộc đời khác tốt đẹp hơn hiện tại
          => Chuyến tàu đêm là một hình ảnh vừa thực vừa lãng mạn, biểu hiện cho tinh thần nhân đạo của Thạch Lam. Tác giả đã lắng nghe và thấu hiểu được những khó khăn dù rất nhỏ bé của những người nghèo khổ
IV)          Tổng kết:
1.     Nghệ thuật:
-         Truyện không có cốt truyện, miêu tả tinh tế diễn biến tâm trạng của người và sự thay đổi của cảnh vật
-         Bút pháp sử dụng hình ảnh tương phản, đối lập
-         Ngôn ngữ giàu hình ảnh, ý nghĩa tượng trưng.
-         Giọng văn nhẹ nhàng đầy chất thơ
2.     Nội dung và ý nghĩa văn bản:
Thạch Lam đã bộc lộ nhẹ nhàng mà thấm thía niềm xót thương đối với những kiếp người sống cơ cực, quẩn quanh và tăm tối nơi phố huyện nghèo trước Cách mạng. Đồng thời, ông cũng biểu lô sự trân trọng ước mong đổi đời tuy còn mơ hồ của họ.

Chủ Nhật, 24 tháng 1, 2016

[Nghị luận] Suy nghĩ về câu nói "Hiền tài là nguyên khí quốc gia" của Thân Nhân Trung

Đề bài:Hiền tài là nguyên khí quốc gia” – Thân Nhân Trung. Suy nghĩ của anh/chị về câu nói đó.

          Cả thế giới cũng chuyển mình mạnh mẽ khi toàn nhân loại cùng nhau bước vào thế kỉ XXI – thế kỉ của những thách thức mới. Từng dất nước phải luôn thay đổi tích cực để hòa vào dòng chảy của thời đại. Trong công cuộc kiến thiết này, Việt Nam ta – một dân tộc nhỏ bé nằm tại bán đảo Đông Dương – phải nỗ lực, phấn đấu gấp đôi, gấp ba các quốc gia khác và thành phần quan trọng của công cuộc thay đổi này chính là những người trẻ hay nói đúng hơn là những “hiền tài”, những người nguyện cống hiến tài trí vì sự phồn vinh của tổ quốc , bởi từ ngàn xưa, Thân Nhân Trung đã chấp bút rằng: “ Hiền tài là nguyên khí quốc gia”.
          “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, câu nói của Thân Nhân Trung như chiếc kim chỉ nam cho định hướng phát triển của đất nước từ xưa đến tận bây giờ . “Hiền tài” là những người tài cao, học rộng và có đạo đức; “nguyên khí” là khí chất cốt yếu làm nên sự sống còn và phát triển của quốc gia. “ Hiền tài là nguyên khí quốc gia” chính là thể hiện sự phồn vinh, thịnh vượng của đất nước Đại Việt – Việt Nam cốt yếu là nhờ những người “tài đức vẹn toàn” cùng nhau chung sức gầy dựng.
          Dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay luôn gìn giữ và phát huy truyền thống hiếu học. Từ nông thôn đến thành thị, người Việt xưa luôn cố gắng học bởi người có học thức sẽ là người được mọi người nể trọng, được nêu danh ở văn bia, được góp sức cai quản đất nước. Từ thời Hậu Lê, những sĩ tử tài đức, giỏi giang cùng thi Hương, Hội , Đình để chọn những người đăng bảng làm quan cùng vua giữ nước. “Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp”. Vua anh minh thì phải có tướng tài, quan giỏi hỗ trợ thì nước nhà đến nguy cũng sẽ được hóa giải, sẽ phát triển thịnh vượng. Và nhờ vào việc quan tâm đến học vấn, thi cử để chọn quan và lập ra hội Tao Đàn, đời vua Lê Thánh Tông chính là một thời kì phát triển cực thịnh nhất trong thời đại phong kiến Việt Nam. Hay là những Nguyễn Trãi, Lý Thường Kiệt đã dùng văn chương tuyệt bút của mình thức dậy lòng yêu nước của nhân dân ta để chúng ta, một đất nước nhỏ bé, có đủ sức mạnh để đánh đuổi bọn quân xâm lược ra khỏi bờ cõi giang sơn. Ấy thế mới thấy được cái tài, cái đức của những bậc anh hùng trí nhân thật là đáng trân trọng, bởi nhờ cái tài của người hiền sĩ, đất nước lại có thể đứng lên và phát triển.
          Cho đến tận ngày hôm nay, những tháng ngày bận rộn của thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đất nước Việt Nam sẽ lại cần những “hiền tài” ra sức cống hiến xây dựng đất nước. Vậy mới thấy được tầm nhìn xa trông rộng của ông cha ta, thời nào cũng vậy, “Hiền tài là nguyen khí quốc gia”. Đặc biệt hơn là thời đại thông tin và kiến thức khoa học – xã hội luôn thay đổi đến chóng mặt , đất nước lại vô cùng cần những người có đủ trí lực đưa đất nước bắt kịp với sự phát triển của thời đại. Chúng ta, những con người đủ sức đủ tài luôn phải cố gắng mỗi ngày, bởi điển hình như khi nước ta bắt đầu sản xuất được máy gặt lúa thì thế giới đã sử dụng máy gặt đập liên hợp. Những người trẻ nhiệt huyết, lẽ nào chịu đứng nhìn đất nước mình tụt hậu, vì thế guồng quay hối hả của xã hội buộc những người tài năng thật sự hành động và cống hiến thì “nguyên khí” quốc gia sẽ thịnh vượng và sẽ có cơ hội sánh vai với các cường quốc trên thế giới.
          Nhưng câu hỏi được đặt ra cho chúng ta là chúng ta sẽ tìm những “hiền tài” ra giúp nước ở đâu? Lẽ nào lại treo bảng thông báo tìm “hiền tài” ? Không. Chúng ta phải biết rằng, hiền tài xuất hiện là do tác động của xã hội, mà đầu tiên là chính quyền nhà nước. Xã hội quay cuồng trong nỗi lo cơm áo gạo tiền buộc những người tài giỏi phải chạy theo nỗi lo ấy để rồi chữ “hiền tài” cũng theo đó mà đi xa. Chính sách nhà nước phải hợp lòng dân,phải đối đãi tốt với nhân dân thì hiền tài mới đủ niềm tin để cống hiến hết mình cho Tổ quốc, bởi hiền tài cũng là dân, cũng từ dân mà ra. Không phải cứ đốt đuốc lên mò mẫm trong biển người để tìm ra người đủ tiêu chuẩn “ hiền tài” mà chính nhờ vào những chính sách, đường lối, chủ trương hợp lý và trân trọng tài năng và dóng góp của nhân dân, quan tâm đến đời sống ấm no hạnh phúc của nhân dân thì chẳng có lý do gì chúng ta không tìm được những người tài giỏi tâm huyết với đất nước. Người Việt Nam ta rất đoàn kết, mấy nghìn năm đấu tranh gìn giữ từng “tấc đất tấc vàng” quê hương thì việc chung tay dựng xây và phát triển đất nước chỉ là việc sớm hay muộn mà thôi. Nói không ngoa, Đảng và nhà nước chính là vua, vua không anh minh, sáng suốt thì dân liệu có phục? Vì thế sự suy thịnh của đất nước phải bắt đầu từ việc cơ bản nhất là đối đãi hiền tài.
          “Hiền tài” trong thời đại hôm nay chính là những người trẻ, những người được nhà nước quan tâm đầu tư phát triển, có đủ học thức, sức khỏe và tâm huyết để tạo nên sự phát triển phồn vinh cho nước nhà. Tri thức trẻ là tầng lớp tinh hoa được trui rèn tài đức để ra sức sáng tạo, lao động bền bỉ góp từng chút ít một thay đổi đất nước một cách tích cực hơn. Xã hội cần những người bản lĩnh đương đầu với khó khăn để chính khó khăn ấy sẽ phát huy năng lực của bậc “hiền tài”. Một đất nước trẻ , năng động thì ắt sẽ là đất nước có thể nghĩ về một tương lai giàu mạnh ở phía trước.
          Những tiềm ẩn trong những người tài sẽ có những kẻ không “hiền”, tức là không có đạo đức, hành động tái pháp luật và lương tâm. Họ dù có thể rất tài năng những tài năng lại để thực hiện những mục đích ích kỉ thậm chí là xấu xa có thể ảnh hưởng đến quá trình phát triển của đất nước. Bác Hồ đã từng nói: “ Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó.” Những con người dám từ bỏ danh dự của mình ắt sẽ là kẻ vô dụng bởi họ chỉ chăm chăm vào bản thân, nhưng những người có đức mà chưa có tài thì làm việc gì cũng khó thì làm sao bắt kịp với guồng quay để tiếp nhận nguồn tri thức của thế giới. Vì thế , mỗi người phải luôn rèn đức luyện tài song hành cũng nhau, để đừng bỡ ngỡ trước sự phát triển của thời đại, để đủ tự tin góp sức đưa Tổ quốc Việt Nam bay cao.
          Là người học sinh được trau dồi và bồi dưỡng  học thức và đạo đức, là những người trẻ đang hoàn thiện nhân cách từng ngày, chúng ta – những chủ nhân hôm nay và mai sau của đất nước – phải luôn phấn đấu từng ngày, từng giờ để không phụ lòng tin yêu của Tổ quốc với thế hệ trẻ, mỗi hành động và việc làm của những người trẻ hôm nay chính là sự phát triển, là “nguyên khí” của quốc gia Việt Nam vững bền mai sau.

          “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, câu nói của Thân Nhân Trung sẽ còn vang mãi ngàn đời sau như một lời khẳng định của biết bao thế hệ Việt Nam, là lời nhắc nhở tất cả những người tài đức và tâm huyết sẽ dành trọn sự nỗ lực của mình xây dựng đất nước vững mạnh muôn đời. Muôn thuở dân tộc Việt Nam, “hiền tài” là cốt lõi của sự phát triển. Vì thế, từng cá nhân và toàn xã hội phải luôn cố gắng hoàn thiện giá trị của bản thân để non sông gấm vóc bốn ngàn năm Việt Nam có thể hoàn toàn tin tưởng vào sự cống hiến của những con người đủ đức đủ tài.
                                                                                                     Đặng Hoàng Hà